Kinh Thánh trong một năm
Giêng 16


Sáng Thế 1:1-31
1. Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời đất.
2. Lúc ấy, đất không có hình thể và còn trống không. Bóng tối, bao trùm vực thẳm và Thần Linh của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.
3. Bấy giờ, Đức Chúa Trời phán: “Phải có ánh sáng!” Ánh sáng liền xuất hiện.
4. Đức Chúa Trời thấy ánh sáng là tốt. Đức Chúa Trời phân rẽ ánh sáng và bóng tối.
5. Đức Chúa Trời gọi sáng là Ngày và tối là Đêm. Đó là buổi chiều và buổi sáng ngày thứ nhất.
6. Đức Chúa Trời phán: “Phải có khoảng không phân cách nước với nước”.
7. Vậy, Đức Chúa Trời tạo khoảng không phân cách nước dưới khoảng không với nước trên khoảng không, thì có như vậy.
8. Đức Chúa Trời gọi khoảng không là bầu trời. Đó là buổi chiều và buổi sáng ngày thứ nhì.
9. Đức Chúa Trời phán: “Nước dưới bầu trời hãy tụ lại một chỗ và đất khô phải xuất hiện”, thì liền có như thế.
10. Đức Chúa Trời gọi đất khô là Đất, và vùng nước tụ lại là Biển. Đức Chúa Trời thấy điều ấy là tốt.
11. Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh cây cỏ; cỏ kết hạt và cây kết quả có hạt tùy theo loại” thì có như vậy.
12. Đất sinh sản cây cỏ, cỏ kết hạt tùy theo loại, cây kết quả có hạt tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều ấy là tốt.
13. Đó là buổi chiều và buổi sáng ngày thứ ba.
14. Đức Chúa Trời phán: “Phải có các vì sáng trên bầu trời để phân biệt ngày và đêm, làm dấu cho thì tiết, ngày và năm,
15. và hãy có những vì sáng trên bầu trời để soi sáng trái đất,” thì có như vậy.
16. Đức Chúa Trời tạo hai vì sáng lớn, vì sáng lớn hơn cai quản ban ngày; vì sáng nhỏ hơn cai quản ban đêm, và các tinh tú.
17. Đức Chúa Trời đặt các vì sáng trên bầu trời để soi sáng trái đất,
18. cai quản ngày và đêm và phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt.
19. Đó là buổi chiều và buổi sáng ngày thứ tư.
20. Đức Chúa Trời phán: “Nước phải đầy dẫy sinh vật và phải có chim bay trên trời!”
21. Đức Chúa Trời tạo các loài thủy quái, mọi loài sinh vật đầy dẫy dưới nước tùy theo loại, và các loài chim có cánh tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt.
22. Đức Chúa Trời ban phước cho chúng và bảo: “Hãy sinh sản, tăng thêm; sinh đầy dẫy dưới biển. Các loài chim hãy gia tăng trên đất.”
23. Đó là buổi chiều và buổi sáng ngày thứ năm.
24. Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh các sinh vật tùy theo loại, các súc vật, các loài bò sát và thú rừng tùy theo loại!” thì có như vậy.
25. Đức Chúa Trời tạo nên các thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại và mọi loài bò sát trên đất tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
26. Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo nên loài người như hình thể Ta và giống như Ta, để quản trị các loài cá biển, chim trời, súc vật trên cả trái đất và các loài vật bò trên đất.”
27. Đức Chúa Trời tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người như hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài tạo nên người nam và người nữ.
28. Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán: “Hãy sinh sản gia tăng đầy dẫy mặt đất và thống trị đất. Hãy quản trị loài cá biển, chim trời và tất cả các loài vật bò trên đất.”
29. Đức Chúa Trời phán: “Ta ban cho các ngươi mọi thứ rau cỏ kết hạt mọc trên đất và mọi thứ cây cối sinh quả kết hạt, để dùng làm thực phẩm cho các ngươi.
30. Ta cũng ban tất cả cây cỏ xanh cho các thú vật, chim trời và mọi loài vật bò trên đất, mọi loài có sinh khí làm thực phẩm thì có như vậy.”
31. Đức Chúa Trời nhìn mọi vật Ngài dựng nên và thấy là rất tốt. Đó là buổi chiều và buổi sáng ngày thứ sáu.

Sáng Thế 2:1-25
1. Thế là hoàn thành trời, đất và tất cả vạn vật.
2. Đức Chúa Trời hoàn tất công việc Ngài đã làm vào ngày thứ bảy, Ngài nghỉ mọi công việc Ngài đã làm.
3. Đức Chúa Trời chúc phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa nó vì vào ngày ấy Đức Đức Chúa Trời nghỉ ngơi mọi công việc sáng tạo.
4. Đó là gốc tích trời đất khi được sáng tạo, trong ngày CHÚA, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.
5. Bấy giờ chưa có cây cối và rau cỏ mọc lên ngoài đồng trên mặt đất, vì CHÚA, Đức Chúa Trời chưa cho mưa xuống đất, và cũng chưa có người cầy bừa đất đai.
6. Một nguồn nước từ mặt đất dâng lên và tưới toàn thể mặt đất.
7. CHÚA, Đức Chúa Trời nắn lên loài người từ bụi đất, hà sinh khí vào lỗ mũi và người trở nên một linh hồn sống.
8. CHÚA, Đức Chúa Trời trồng một khu vườn tại Ê-đen ở phía đông và đặt người Ngài đã dựng nên tại đó.
9. CHÚA, Đức Chúa Trời khiến từ đất mọc lên mọi cây cối đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có Cây Sự Sống và Cây Biết Thiện Ác.
10. Một dòng sông chảy ra từ Ê-đen để tưới vườn và từ đó chia làm bốn nhánh.
11. Nhánh thứ nhất tên Phi-song, chảy quanh đất Ha-vi-la là nơi có vàng,
12. vàng xứ này rất tốt, cũng có nhũ hương và bích ngọc.
13. Nhánh sông thứ hai tên Ghi-hôn chảy quanh xứ Cút.
14. Nhánh sông thứ ba tên Ti-gơ chảy về phía đông A-si-ri. Nhánh sông thứ tư tên Ơ-phơ-rát.
15. CHÚA, Đức Chúa Trời đem người đặt vào vườn Ê-đen để canh tác và chăm sóc vườn.
16. CHÚA, Đức Chúa Trời truyền lệnh cho người rằng: “Con có thể ăn bất cứ trái cây nào trong vườn,
17. nhưng về ‘Cây Biết Thiện Ác’ thì không được ăn, vì ngày nào con ăn trái đó chắc chắn con sẽ chết.”
18. CHÚA, Đức Chúa Trời lại nói: “Con người ở một mình không tốt! Ta sẽ dựng nên cho người một kẻ giúp đỡ thích hợp.”
19. CHÚA, Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên mọi thú đồng và mọi chim trời rồi đem đến cho người để xem người đặt tên chúng là gì; và bất cứ tên gì người gọi mỗi sinh vật đều thành tên riêng của nó.
20. A-đam đặt tên cho tất cả các loài gia súc, chim trời và thú rừng.Nhưng về phần A-đam thì không tìm được một người giúp đỡ thích hợp với mình.
21. CHÚA, Đức Chúa Trời khiến A-đam ngủ mê. Khi người đang ngủ, Ngài lấy một chiếc xương sườn của người rồi lấp chỗ thịt đó lại.
22. Từ xương sườn lấy nơi A-đam, CHÚA, Đức Chúa Trời dựng nên một người nữ và đem đến cho người.
23. A-đam nói:“Bây giờ đây là xương từ xương tôi,Thịt từ thịt tôi,Người này được gọi là người nữVì từ người nam mà ra.
24. Vì thế, người nam sẽ rời cha mẹ để kết hiệp với vợ và hai người trở thành một thân.”
25. A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng nhưng không thấy xấu hổ.

Thánh Thi 1:1-6
1. Phước cho người nàoKhông đi theo mưu kế kẻ ác,Không đứng trong đường tội nhân,Không ngồi chung với kẻ nhạo báng.
2. Nhưng vui thích trong thánh luật của CHÚA,Ngày đêm suy ngẫm thánh luật ấy.
3. Người ấy sẽ như cây trồng bên dòng nước,Sinh hoa quả đúng mùa,Lá không tàn héo.Mọi việc người làm đều thịnh vượng.
4. Kẻ ác không được như vậy,Nhưng chúng nó giống như rơm rác,Gió cuốn bay đi.
5. Nên kẻ ác sẽ không đứng nổi trong ngày phán xử,Tội nhân sẽ không được ở trong hội người công chính.
6. Vì CHÚA biết đường lối người công chính,Nhưng đường lối kẻ ác sẽ bị diệt vong.

Châm Ngôn 1:1-7
1. Châm Ngôn của Sa-lô-môn, Con Trai Đa-vít, Vua của Y-sơ-ra-ên;
2. Để biết sự khôn ngoan và lời giáo huấn;Để hiểu những lời sáng suốt;
3. Để nhận lấy lời giáo huấn cho đời sống khôn ngoan,Công chính, công bình và bình đẳng;
4. Để ban cho người dại dột sự khôn khéo;Cho người trẻ tuổi sự hiểu biết và suy xét.
5. Nguyện người khôn ngoan sẽ nghe và tăng thêm sự học vấn;Người sáng suốt sẽ nhận được sự hướng dẫn;
6. Để hiểu châm ngôn và ngụ ngôn;Những lời của người khôn ngoan và câu đố của họ.
7. Kính sợ CHÚA là khởi đầu sự hiểu biết;Kẻ ngu dại khinh bỉ sự khôn ngoan và lời giáo huấn.

Ma-thi-ơ 1:1-25
1. Gia phổ của Chúa Cứu Thế Giê-su, dòng dõi Đa-vít, con cháu Áp-ra-ham.
2. Áp-ra-ham sinh Y-sác,Y-sác sinh Gia-cốp,Gia-cốp sinh Giu-đa và anh em người,
3. Giu-đa sinh Pha-rê và Xa-ra mẹ là Tha-ma,Pha-rê sinh Ếch-rôm,Ếch-rôm sinh A-ram,
4. A-ram sinh A-mi-na-đáp,A-mi-na-đáp sinh Na-ách-son,Na-ách-son sinh Sanh-môn,
5. Sanh-môn sinh Bô-ô mẹ là Ra-háp,Bô-ô sinh Ô-bết mẹ là Ru-tơ,Ô-bết sinh Gie-sê,
6. Gie-sê sinh vua Đa-vít,Đa-vít sinh Sa-lô-môn, mẹ nguyên là vợ U-ri,
7. Sa-lô-môn sinh Rô-bô-am,Rô-bô-am sinh A-bi-gia,A-bi-gia sinh A-sa,
8. A-sa sinh Giô-sa-phát,Giô-sa-phát sinh Giô-ram,Giô-ram sinh Ô-xia,
9. Ô-xia sinh Giô-tam,Giô-tam sinh A-cha,A-cha sinh Ê-xê-chia,
10. Ê-xê-chia sinh Ma-na-se,Ma-na-se sinh A-môn,A-môn sinh Giô-si-a,
11. Giô-si-a sinh Giê-cô-nia và các em người lúc bị lưu đày tại Ba-by-lôn.
12. Sau khi bị lưu đày tại Ba-by-lôn,Giê-cô-nia sinh Sa-la-thi-ên,Sa-la-thi-ên sinh Xô-rô-ba-bên,
13. Xô-rô-ba-bên sinh A-bi-út,A-bi-út sinh Ê-li-a-kim,Ê-li-a-kim sinh A-xô,
14. A-xô sinh Sa-đốc,Sa-đốc sinh A-chim,A-chim sinh Ê-li-út,
15. Ê-li-út sinh Ê-li-a-xa,Ê-li-a-xa sinh Ma-than,Ma-than sinh Gia-cốp,
16. Gia-cốp sinh Giô-sép, chồng của Ma-ri. Ma-ri sinh Đức Giê-su, Chúa Cứu Thế.
17. Như thế từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít kể tất cả là mười bốn đời, từ Đa-vít cho đến khi bị lưu đày qua Ba-by-lôn được mười bốn đời, và từ lúc lưu đày tại Ba-by-lôn cho đến Chúa Cứu Thế cũng mười bốn đời.
18. Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-su đã xảy ra như sau: Ma-ri, mẹ Ngài, đã đính hôn cùng Giô-sép, nhưng trước khi hai người chung sống, Ma-ri đã thụ thai do quyền phép Đức Thánh Linh.
19. Giô-sép, chồng hứa của nàng là người có tình nghĩa, không muốn nàng bị bêu xấu, nên định âm thầm từ hôn.
20. Đang khi ông suy tính như vậy, một thiên sứ của Chúa hiện đến trong giấc mộng và bảo: “Này Giô-sép, con cháu Đa-vít, đừng ngại cưới Ma-ri làm vợ vì thai nàng đang mang là bởi Đức Thánh Linh.
21. Nàng sẽ sinh một trai, hãy đặt tên là Giê-su, vì Ngài sẽ cứu dân tộc mình thoát khỏi tội lỗi.”
22. Mọi việc đã xảy đến như thế để lời Chúa phán qua nhà tiên tri được ứng nghiệm:
23. “Này, một trinh nữ sẽ mang thai và sinh một trai.Người ta sẽ đặt tên Ngài là Em-ma-nu-ên,”Nghĩa là: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
24. Giô-sép thức dậy, làm theo lời thiên sứ của Chúa đã dặn bảo, cưới Ma-ri về làm vợ,
25. nhưng hai người không ăn ở với nhau cho đến khi nàng sinh một con trai, và đặt tên là Giê-su.