Kinh Thánh trong một năm
Giêng 21


Sáng Thế 1:1-31
1. Ban đầu Thượng Đế tạo nên trời và đất.
2. Lúc bấy giờ đất trống không và vô hình dạng. Bóng tối bao trùm vực thẳm, còn Thần Linh của Thượng Đế bay là là trên mặt nước.
3. Thượng Đế phán, “Ánh sáng hãy xuất hiện,” thì liền có ánh sáng.
4. Thượng Đế nhận thấy ánh sáng thật tốt lành, nên Ngài phân ánh sáng ra với bóng tối.
5. Ngài gọi ánh sáng là “ngày” và bóng tối là “đêm.” Buổi chiều qua đi, buổi sáng đến. Đó là ngày đầu tiên.
6. Sau đó Thượng Đế phán, “Phải có một cái vòm phân chia nước ra làm hai.”
7. Nên Thượng Đế tạo cái vòm để chứa một số nước ở phía trên khoảng không và một số nước bên dưới khoảng không ấy.
8. Thượng Đế gọi khoảng không là “bầu trời.” Buổi chiều qua, buổi sáng đến. Đó là ngày thứ hai.
9. Rồi Thượng Đế phán, “Nước ở dưới trời phải gom lại một chỗ để đất khô hiện ra.” Sự việc liền xảy ra như thế.
10. Ngài gọi chỗ khô ráo là “đất” và chỗ nước tụ lại là “biển.” Thượng Đế thấy điều đó thật tốt lành.
11. Sau đó Thượng Đế phán, “Đất phải sinh ra cây cối, một vài loại sinh ra hột giống và loại khác sinh ra trái cây có hột. Mỗi loại hột sẽ sinh ra nhiều cây khác cùng giống.” Sự việc liền xảy ra như Ngài phán.
12. Đất sinh ra cây có hột giống, có thứ cây sinh ra trái có hột. Mỗi hột giống tạo ra cây cùng loại. Thượng Đế thấy điều đó thật tốt lành.
13. Buổi chiều qua, buổi sáng đến. Đó là ngày thứ ba.
14. Rồi Thượng Đế phán, “Phải có các đèn sáng trên trời để phân biệt ngày với đêm. Các đèn đó sẽ dùng làm dấu hiệu chỉ mùa, ngày và năm.
15. Các đèn trên trời sẽ chiếu sáng đất.” Sự việc liền xảy ra như vậy.
16. Nên Thượng Đế tạo ra hai cái đèn lớn. Ngài làm cái đèn sáng hơn để cai trị ban ngày, còn đèn nhỏ hơn để cai trị ban đêm. Ngài cũng tạo ra các ngôi sao.
17. Ngài đặt tất cả những vật đó trong bầu trời để chiếu sáng đất
18. và dùng cai trị ngày và đêm, cùng để phân biệt ánh sáng với bóng tối. Thượng Đế thấy tất cả những điều đó thật tốt lành.
19. Buổi chiều qua, buổi sáng đến. Đó là ngày thứ tư.
20. Sau đó Thượng Đế phán, “Nước phải chứa đầy các sinh vật, chim phải bay trong vòm trời phía trên mặt đất.”
21. Cho nên Thượng Đế tạo ra các quái vật dưới biển cùng các sinh vật sống trong biển. Biển đầy dẫy các loài đó, mỗi loài sinh ra nhiều con khác cùng giống. Ngài cũng tạo các loài chim bay, mỗi loài chim sinh sản ra các con cùng giống. Thượng Đế thấy những điều đó thật tốt lành.
22. Thượng Đế ban phước cho chúng và phán, “Hãy sinh sản cho nhiều để làm cho đầy biển, chim cũng phải sinh ra thật đông trên đất.”
23. Buổi chiều qua, buổi mai đến. Đó là ngày thứ năm.
24. Rồi Thượng Đế phán, “Đất phải sinh ra các loài thú vật, mỗi loài sinh sản ra nhiều con khác cùng giống. Phải có các loài gia súc, các loài bò sát cùng các dã thú, mỗi loài phải sinh sản ra nhiều con khác cùng giống.” Sự việc liền xảy ra như thế.
25. Thượng Đế làm ra các loài dã thú, các loài gia súc, các động vật bò sát để chúng sinh ra các con khác cùng giống. Thượng Đế thấy điều đó thật tốt lành.
26. Sau đó Thượng Đế bảo, “Chúng ta hãy tạo nên con người theo hình ảnh của chúng ta, để họ quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời, các loài gia súc, để họ cai trị khắp đất cùng các loài bò sát.”
27. Nên Thượng Đế tạo con người theo hình ảnh Ngài. Thượng Đế tạo ra họ theo hình ảnh Ngài. Ngài tạo ra người đàn ông và đàn bà.
28. Thượng Đế ban phước cho con người và bảo, “Hãy sinh con đẻ cái thật nhiều cho chật đất và hãy quản trị đất. Hãy cai quản loài cá trong biển, chim trên trời và các động vật trên đất.”
29. Thượng Đế phán, “Nầy, ta đã cho các con mọi thứ cây sinh hột giống và các thứ cây ra trái có hột. Dùng những thứ đó mà làm thức ăn.
30. Ta cũng đã dùng mọi loài rau cỏ xanh làm thức ăn cho các loài dã thú, chim trên trời cùng các động vật bò sát.” Sự việc liền xảy ra như vậy.
31. Thượng Đế nhìn những vật Ngài đã dựng nên, tất cả đều vô cùng tốt đẹp. Buổi chiều qua đi, buổi mai đến. Đó là ngày thứ sáu.

Sáng Thế 2:1-25
1. Thế là trời, đất và mọi vật trong đó đã được dựng nên xong.
2. Đến ngày thứ bảy Thượng Đế hoàn tất công tác của Ngài, cho nên Ngài nghỉ việc.
3. Thượng Đế ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày ấy vì là ngày Thượng Đế nghỉ ngơi công tác sáng tạo thế giới.
4. Đây là câu truyện tạo dựng trời đất. Khi Thượng Đế mới dựng nên trời đất,
5. mặt đất chưa có một bụi cây nào cả. Cũng chẳng có gì mọc ngoài đồng vì CHÚA chưa cho mưa xuống đất. Cũng chưa có ai chăm sóc đất,
6. nhưng có một luồng sương mù bốc lên từ dưới đất tưới ướt khắp cả mặt đất.
7. Sau đó Thượng Đế lấy bụi đất tạo nên con người. Ngài thổi hơi thở vào lỗ mũi, thì con người trở thành người sống.
8. Thượng Đế lập một cái vườn ở Ê-đen về phía Đông, rồi Ngài đặt con người Ngài đã dựng nên vào đó.
9. CHÚA khiến các loài cây từ đất mọc lên. Cây thì đẹp và trái ăn rất ngon. Ở giữa vườn có cây tạo sự sống và cây biết điều thiện lẫn điều ác.
10. Có một con sông chảy ra từ Ê-đen để tưới vườn. Con sông nầy chia ra bốn nhánh sông khác.
11. Nhánh sông thứ nhất tên Phi-sôn, chảy quanh vùng đất Ha-vi-la là nơi có vàng.
12. Vàng xứ đó rất quí giá. Ở đó cũng có nhũ hương và hồng ngọc.
13. Con sông thứ hai tên Ghi-hôn, chảy quanh xứ Cút.
14. Con sông thứ ba tên Ti-gờ-rít, chảy về hướng đông đến A-xy-ri. Con sông thứ tư là Ơ-phơ-rát.
15. Thượng Đế đặt con người trong vườn Ê-đen để chăm sóc và trồng trọt.
16. Ngài ra chỉ thị cho con người như sau, “Con được phép ăn tất cả trái cây trong vườn,
17. nhưng không được ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác. Nếu con ăn trái cây ấy con sẽ chết!”
18. Thượng Đế bảo, “Con người sống một mình không tốt. Ta sẽ làm một người giúp đỡ thích hợp cho nó.”
19. Thượng Đế lấy đất tạo nên mọi loài muông thú trên đất, mọi loài chim trời, xong Ngài đưa chúng đến trước con người, để xem con người đặt tên cho chúng ra sao. Con người đặt tên cho sinh vật nào thì thành tên ấy cho nó.
20. Con người đặt tên cho tất cả các loài gia súc, các loài chim trên trời và các muông thú sống trên đất. Nhưng về con người thì không tìm được ai giúp đỡ thích hợp cả.
21. Cho nên Thượng Đế khiến con người ngủ mê; trong khi đang ngủ Ngài lấy ra một xương hông của con người, rồi lấp chỗ ấy lại.
22. Thượng Đế dùng cái xương hông từ người nam mà làm thành một người nữ, xong đưa người nữ ấy đến gặp người nam.
23. Người nam nói, “Đây là con người mà xương là do xương tôi ra, thân thể cũng do thân thể tôi mà ra. Tôi sẽ gọi nàng là ‘đàn bà’ vì nàng ra từ người đàn ông.”
24. Cho nên người đàn ông phải rời cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Hai người sẽ trở thành một thân.
25. Cả người đàn ông và vợ đều trần truồng nhưng không cảm thấy xấu hổ.

Thánh Thi 1:1-6
1. Phúc cho người nào không nghe lời kẻ ác, không bước trong nẻo tội nhân, chẳng làm như kẻ xấc láo.
2. Nhưng yêu mến lời dạy của CHÚA, và suy tư lời ấy đêm ngày.
3. Họ lớn mạnh như cây mọc cạnh suối nước, sinh hoa quả đúng mùa, lá chẳng khô héo. Mọi việc họ làm đều thành công.
4. Kẻ ác chẳng được như thế. Chúng giống như trấu bị gió thổi bay tứ tung.
5. Cho nên kẻ ác sẽ chẳng thoát khỏi sự trừng phạt của Thượng Đế. Tội nhân cũng không thể nào thờ phụng chung với dân CHÚA.
6. Vì CHÚA chăm sóc con dân Ngài, còn kẻ ác sẽ bị tiêu diệt.

Châm Ngôn 1:1-7
1. Sau đây là những châm ngôn của Sô-lô-môn, con Đa-vít, vua Ít-ra-en
2. để dạy sự khôn ngoan và tiết độ; giúp con chấp nhận sự sửa dạy, am hiểu những lời thông sáng.
3. Không những chúng dạy con tiết độ và khôn ngoan mà còn biết làm điều phải, công bằng và chính trực.
4. Những lời ấy khiến kẻ mộc mạc, chất phác trở nên khôn ngoan, và giúp người trẻ tuổi thêm hiểu biết và dè dặt.
5. Kẻ khôn ngoan có thể nghe và học hỏi! Người thông minh cũng tìm được ý tưởng hay.
6. Ai nấy có thể hiểu biết lời lẽ và truyện tích khôn ngoan, cùng những lời của người khôn và câu đố của họ.
7. Kính sợ Chúa là khởi điểm của sự hiểu biết, còn kẻ ngu dại ghét sự khôn ngoan và tiết độ.

Ma-thi-ơ 1:1-25
1. Đây là gia phổ của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài xuất thân từ dòng họ Đa-vít, Đa-vít xuất thân từ dòng họ Áp-ra-ham.
2. Áp-ra-ham sinh Y-sác. Y-sác sinh Gia-cốp. Gia-cốp sinh Giu-đa và các anh em.
3. Giu-đa sinh Phê-rê và Xê-ra. (Mẹ của hai người nầy là Ta-ma.) Phê-rê sinh Hết-rôn. Hết-rôn sinh Ram.
4. Ram sinh A-bi-na-đáp. A-bi-na-đáp sinh Nát-son. Nát-son sinh Xanh-môn.
5. Xanh-môn sinh Bô-ô. (Mẹ của Bô-ô là Ra-háp.) Bô-ô sinh Ô-bết. (Mẹ của Ô-bết là Ru-tơ.) Ô-bết sinh Gie-xê.
6. Gie-xê sinh vua Đa-vít. Đa-vít sinh Sô-lô-môn. (Mẹ Sô-lô-môn trước kia là vợ của U-ri.)
7. Sô-lô-môn sinh Rô-bô-am. Rô-bô-am sinh A-bi-gia. A-bi-gia sinh A-xa.
8. A-xa sinh Giê-hô-sa-phát. Giê-hô-sa-phát sinh Giê-hô-ram. Giê-hô-ram là ông tổ của U-xia.
9. U-xia sinh Giô-tham. Giô-tham sinh A-háp. A-háp sinh Ê-xê-chia.
10. Ê-xê-chia sinh Ma-na-xe. Ma-na-xe sinh Am-môn. A-môn sinh Giô-xia.
11. Giô-xia sinh Giê-cô-nia và các anh em ông. (Đây là nói về thời kỳ trước khi bị đày qua Ba-by-lôn.)
12. Sau khi bị đày qua Ba-by-lôn: Giê-hô-gia-kim sinh Sát-tiên. Sát-tiên là ông nội của Xê-ru-ba-bên.
13. Xê-ru-ba-bên sinh A-bi-út. A-bi-út sinh Ê-li-a-kim. Ê-li-a-kim sinh A-xo.
14. A-xo sinh Xa-đốc. Xa-đốc sinh A-kim. A-kim sinh Ê-li-út.
15. Ê-li-út sinh Ê-li-a-xa. Ê-li-a-xa sinh Ma-than. Ma-than sinh Gia-cốp.
16. Gia-cốp sinh Giô-xép. Giô-xép là chồng Ma-ri, còn Ma-ri là mẹ Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu được gọi là Đấng Cứu Thế.
17. Như vậy, tính từ Áp-ra-ham đến Đa-vít có mười bốn đời. Từ Đa-vít cho đến khi dân chúng bị đày qua Ba-by-lôn có mười bốn đời. Và từ khi bị đày qua Ba-by-lôn cho đến khi Đấng Cứu Thế ra đời cũng có mười bốn đời.
18. Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu diễn ra như sau: Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa hôn với Giô-xép, nhưng trước khi thành hôn, Ma-ri biết mình đã mang thai bởi quyền năng của Thánh Linh.
19. Giô-xép, chồng Ma-ri là người đức hạnh, không muốn công khai bêu xấu Ma-ri nên dự định âm thầm ly dị nàng.
20. Trong khi Giô-xép đang suy tính chuyện ấy thì một thiên sứ hiện đến cùng ông trong chiêm bao và bảo rằng, “Giô-xép, con cháu Đa-vít ơi, đừng e ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì thai nhi trong bụng nàng là do Thánh Linh.
21. Nàng sẽ sinh một trai, ông hãy đặt tên là Giê-xu, vì con ấy sẽ giải cứu dân ta ra khỏi tội.”
22. Việc nầy xảy ra để lời Chúa đã phán với nhà tiên tri trở thành sự thật:
23. “Một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một trai. Người ta sẽ gọi Ngài là Em-ma-nu-ên,” nghĩa là “Thượng Đế ở với chúng ta.”
24. Khi Giô-xép thức dậy liền làm theo lời thiên sứ Chúa đã dặn bảo. Ông cưới Ma-ri làm vợ
25. nhưng không ăn nằm với cô cho đến khi cô sinh một trai. Rồi Giô-xép đặt tên em bé ấy là Giê-xu.